Đề cho một danh sách đối tượng, thường là tên các nhà nghiên cứu, các quốc gia hoặc các nhóm, rồi hỏi phát biểu nào thuộc về ai.
Bài đọc không giới thiệu từng đối tượng gọn một chỗ. Tên của một nhà nghiên cứu có thể xuất hiện ở đoạn hai, rồi lại ở đoạn năm với một ý khác hẳn. Làm từng câu một nghĩa là bạn quét lại cả bài cho mỗi câu.
Rẻ hơn nhiều: quét một lượt duy nhất, khoanh tròn mọi tên riêng trong danh sách, rồi ghi cạnh mỗi tên vài chữ về điều người đó nói. Sau lượt quét ấy, hầu hết câu hỏi trả lời được mà không cần đọc lại.
Đề thường xếp hai đối tượng có quan điểm gần nhau, khác nhau ở một điểm. Ví dụ hai nhà nghiên cứu cùng cho rằng một hiện tượng có thật, nhưng bất đồng về nguyên nhân.
Với các cặp như vậy, đừng ghi "đồng ý" hay "không đồng ý" vào bảng. Ghi cụ thể họ đồng ý về CÁI GÌ. Bảng ghi thô sẽ khiến bạn chọn nhầm đúng ở những câu phân loại điểm.
Dạng này có vài luật khác với các dạng khác, và đọc sót một dòng hướng dẫn là mất vài câu liền.
Danh sách đối tượng không phải lúc nào cũng là tên người, và mỗi kiểu đòi một cách quét khác nhau.
Câu hỏi thường không ra theo thứ tự bài đọc, nên bạn mất đi cách định vị tuần tự. Cộng thêm việc một đối tượng có thể xuất hiện ở ba đoạn khác nhau, tổng số chỗ phải kiểm cho mỗi câu lớn hơn hẳn các dạng khác.
Đó là lý do bảng ghi ở lượt quét đầu không phải một bước tuỳ chọn. Không có bảng thì bạn đang làm lại cùng một việc cho mỗi câu, và số lần quét lại tăng theo bình phương số câu.
Lấy một passage có dạng này, che phần câu hỏi đi, và chỉ làm đúng bước lập bảng: quét một lượt, ghi tên và ý của từng đối tượng. Rồi mở câu hỏi ra làm mà không được đọc lại bài.
Nếu bảng của bạn đủ tốt thì bạn làm được phần lớn câu. Nếu không làm được, chỗ hỏng nằm ở bước ghi bảng chứ không ở kỹ năng đọc, và đó là thứ luyện được nhanh.
Kiểm lại xem bài có gọi người đó bằng cách khác không, ví dụ chỉ dùng đại từ "he" hoặc "the researcher" sau lần nhắc tên đầu tiên. Đây là chỗ sót phổ biến nhất của dạng này.