CEFR (Common European Framework of Reference for Languages) là khung tham chiếu chung do Hội đồng châu Âu xây dựng để mô tả trình độ ngoại ngữ. Nó không phải một bài thi. Nó là một bộ mô tả 'người ở mức này làm được gì', và gần như mọi bài thi tiếng Anh lớn đều tự gắn mình vào khung này để người ngoài hiểu được điểm của mình.
Sáu mức chia thành ba nhóm: A là người mới dùng, B là người dùng độc lập, C là người dùng thành thạo. Tóm gọn từ mô tả chung của CEFR:
Mỗi bài thi Cambridge nhắm một mức: Pre A1 Starters, A1 Movers, A2 Flyers dành cho thiếu nhi; A2 Key, B1 Preliminary, B2 First, C1 Advanced, C2 Proficiency cho các mức trên. Tên bài đã chứa sẵn mức CEFR nó nhắm tới. Mức Pre A1 không phải một mức chính thức của CEFR mà là mức Cambridge đặt cho người mới bắt đầu.
Vì các bài từ A2 Key trở lên báo điểm trên Cambridge English Scale, chứng chỉ ghi cả mức CEFR mà con thật sự đạt, có thể cao hoặc thấp hơn mức của bài một bậc.
Việt Nam có Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam, ban hành theo Thông tư 01/2014/TT-BGDĐT. Khung này được xây dựng dựa trên CEFR, và về tổng thể Bậc 1 tới Bậc 6 tương ứng A1 tới C2. Cách các trường và cơ quan Việt Nam dùng khung này cho từng mục đích là quy định riêng; cần đọc văn bản hoặc hỏi nơi tiếp nhận.
Nghĩ theo mức CEFR giúp phụ huynh không bị lạc giữa tên các bài thi. Câu hỏi đúng là 'con đang ở mức nào và cần lên mức nào', rồi mới chọn bài thi phù hợp. NEMO GRAMMAR cũng xếp năm cấp độ của mình theo các mức A1 tới C1 để phụ huynh đặt được con vào cùng một bản đồ.
Theo tương ứng chung giữa khung 6 bậc và CEFR, B1 ứng với Bậc 3. Mục đích sử dụng cụ thể thì theo quy định của nơi tiếp nhận.
CEFR không quy định thời gian. Thời gian thật tuỳ tuổi, môi trường và cường độ học của từng trẻ.
Không hẳn. Mức trên chứng chỉ là mức tổng; xem điểm từng kỹ năng trên giấy báo kết quả để biết rõ hơn.